5 (100%) 2 votes

Phân tích vài nét về Thăng Long

Nhiều năm qua tôi đã nghiên cứu về Địa lí theo sách chính tông của cụ Tả Ao -thày Địa lí nổi tiếng của nước ta thời vua Lê – chúa Trịnh. Với 20 năm sống tại Hà Nội, tôi đã dành một số thời gian nghiên cứu về mảnh đất này theo cách nhìn của thuật Điạ lí – Phong thuỷ.

Hôm nay tôi xin mạnh dạn đưa ra cách phân tích vài nét về thủ đô Hà Nội – đế đô Thăng Long xưa theo thuật Địa lí – Phong thuỷ.
Thành Thăng Long đã có lịch sử gần 1000 năm, theo cách nhìn của các nhà Phong thuỷ thì thế đất này là thế: “ Thuỷ hậu nhập tiền ” nghĩa là thế sông Hồng vòng ôm, sau trước đều có nước. Thế rồng chầu hổ phục. Trung tâm cát huyệt là nơi đặt chùa Một Cột – nơi ấy, theo tôi chính là rốn rồng (như truyền thuyết nói là mắt con rồng ). Long mạch của Thăng Long khởi tích từ dãy núi Ba Vì, Sơn Tây chạy qua đất Thăng Long kết một chùm huyệt lớn tại: khu chùa Một Cột, dưới lòng Hồ Tây, khu hồ Hoàn Kiếm..v..v… Long mạch này còn chạy xuôi tới vùng Kinh Bắc thấu đến biển Đông.

Chùa một cột
Theo quan điểm riêng tôi thì việc xây chùa Một Cột chính là việc yểm trạch: Đóng đinh vào rốn rồng nhằm phá hỏng một cát huyệt lớn của thành Thăng Long, nhưng huyệt đó quá lớn nên việc yểm phá không nổi.


Việc đào con sông Bắc – Hưng – Hải cũng là việc phá nhau về Địa lí: một mặt cắt đứt long mạch lớn của vùng Kinh Bắc, mặt khác tạo ra thế “ Thuỷ lôi tâm ”, dùng nước con sông đào tạo ra thế rút ruột thành Thăng Long nhằm phá hỏng cái thế hay: thuỷ hậu nhập tiền, là thế con sông Hồng vòng ôm thành Thăng Long, phá hỏng nơi chung tụ linh khí. Thực là thâm kế: chỉ với một con sông đào mà cắt đứt long mạch của dải đất Kinh Bắc nhằm triệt nhân tài của vùng đất xưa đã sản sinh ra nhiều nhân kiệt cho đất nước ta. Mặt khác, dòng sông đào này còn rút đi linh khí chung tụ của thành Thăng Long làm cho nơi đây: đất phát Dương cơ ( đất tốt cho người sống làm ăn phát đạt) này ngày một yếu thế đi theo thời gian. Nếu ta quan sát những gì hôm nay ở nơi đây, chịu suy nghĩ đôi chút ta có thể nhìn thấu về quá khứ mà tin rằng ít bị nhầm lẫn trong cách xem xét:
Khi cách mạng tháng tám 1945 thành công, cụ Hồ lại chọn Hà Nội làm thủ đô cho cả nước. Tại quảng trường Ba Đình cụ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chúng ta đều biết, lúc đó kinh đô của nước ta là ở Huế. 
Thông thường trong lịch sử, một chính thể mới lên nắm chính quyền đều chiếm đế đô ( hoặc thủ đô ) cũ để tuyên thệ, để chính phủ mới ra mắt Quốc dân đồng bào. Vậy sao cụ Hồ không đọc tuyên ngôn độc lập tại Tử cấm thành của đế đô Huế? hoặc tại thành nhà Hồ ở Thanh Hoá? hoặc tại đền Hùng Vương, Phú Thọ – đất tổ của dân tộc Việt ?

Quảng trường ba đình ngày nay.

Theo tôi cụ Hồ là người siêu giỏi về văn hoá á Đông, hơn ai hết cụ hiểu thấu lịch sử và Địa lí của nước Việt Nam. Điều này một lần nữa chứng tỏ Lí Công Uẩn viết chiếu và thực hiện việc dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long là cực kì sáng suốt. Điều mà ít người biết đến là việc thảo chiếu, việc bàn định dời đô là do thiền sư Vạn Hạnh – người quân sư, người cha tinh thần của vua Lí chủ trì. Nhà sư lại là người thông tuệ về thuật Địa lí, nhà chính trị siêu hạng trong triều nhà Lí. Ta có thể kính cẩn nói rằng: Có thiền sư Vạn Hạnh mới có triều nhà Lí, có thiền sư – nhà chính trị, nhà Địa lí đặc biệt này mới có Đế đô Thăng Long ngàn năm văn hiến. Ta cũng có thể kính cẩn mà nói rằng: có cụ Hồ mới có cách mạng tháng tám Việt Nam, có cụ: người Cha già dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới mới có thủ đô Hà Nội tươi đẹp hôm nay.Trong chúng ta đã có ai tự hỏi: Lúc còn sống, cụ Hồ chỉ ở ngôi nhà sàn, nơi cách chùa Một Cột không xa? Khi cụ Hồ mất, lăng cụ sao lại đặt ở vị trí như hiện nay: về địa điểm lại gần chùa Một Cột, sao không ở một vị trí nào khác? hướng lăng sao nhìn về hướng vòng ôm của con sông Hồng, nhìn về hướng Đông? Và đây nữa, đài liệt sĩ sao lại đặt thẳng chính diện cửa lăng cụ Hồ ? Nhà bảo tàng Hồ Chí Minh 4 cửa xoay đúng bốn hướng: Bắc – Nam – Đông – Tây, còn nóc của ngôi nhà này lại là hình bát giác tương ứng với vòng bát quái? Tại sao, tại sao ? và tại sao?
Điều căn bản nhất vì nơi đây như trên đã nói là chính huyệt của thành Thăng Long, nơi chung tụ linh khí tuyệt hảo. Tất cả các điều hỏi trên chỉ có thuật Địa lí mới giải thích được đầy đủ. Hiện nay, giải thích đầy đủ và cặn kẽ những vấn đề trên là điều chưa được phép. Mong rằng ai muốn hiểu kĩ xin nghiên cứu thuật Địa lí – phong thuỷ thì tự mình sẽ tìm được câu trả lời thoả đáng. 


Ngày nay, chúng ta thừa nhận Hà nội là thủ đô của cả nước như một sự tất nhiên, rằng nó sẽ phải như vậy mà không thể khác được. Chúng ta nên nhớ rằng: gần 150 năm dưới triều nhà Nguyễn ( từ vua Gia Long tới vua Bảo Đại: 1802 – 1945 ) đế đô của nước ta ở Huế chứ không phải ở Hà nội. Để xoá đi cố đô xưa, các vua nhà Nguyễn đã phá đền Nam Giao ở phía Bắc thành Thăng Long, phá thành nhà Lí lấy gạch xây cột cờ, đổi tên thành Thăng Long ra tên thành Hà Nội. Vậy nên, tôi mới nói: có cụ Hồ mới có thủ đô Hà Nội hôm nay vì Người đã khôi phục lại giá trị đích thực của cố đô ngàn năm văn hiến mà gần 150 năm qua đã nhạt nhoà trong lòng người dân nước Việt.

Nghĩa trang mai dịch.


Lại nữa, tại sao nghĩa trang liệt sĩ ở Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội lại là nơi dành để mai táng những vị có cấp hàm to của Đảng và nhà nước ta? Đối chiếu địa danh này với bản “ Cao Biền tấu thư ” thì đó chính là nơi có cát huyệt lớn mà từ xa xưa Cao Biền là viên thái thú cai trị nước ta trong thời kì Bắc thuộc đã đánh dấu để triệt phá song chưa thực hiện được. Đây là sự trùng lặp ngẫu nhiên, hay là một quyết sách có tính chiến lược về mặt âm?


Như chúng ta đều biết, Hà Nội có rất nhiều hồ lớn nhỏ: hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm v v … Các hồ này cách nhau không xa, thực ra, trước đây 3 hồ: hồ Tây, hồ Trúc Bạch và hồ Hoàn Kiếm thuộc dòng chảy của con sông Hồng, nhưng có lẽ chỉ ở hồ Hoàn Kiếm mới có Rùa. Trong 20 năm qua sống ở Hà Nội, tôi chỉ thấy Rùa nổi ở hồ Hoàn Kiếm, còn các hồ khác không ai thấy Rùa nổi, Rùa bò lên bờ bao giờ. Truyền thuyết về sự tích hồ Hoàn Kiếm còn đó, cháu chắt Rùa Vàng đòi gươm vua Lê Lợi ngày xưa, nay vẫn còn đây. Liệu có phải: địa linh sinh linh vật ( Rùa là linh vật trong hàng tứ linh: Long, Li, Qui, Phượng ) Nên chỉ hồ Hoàn Kiếm là nơi địa linh mới sinh ra loài Qui ( Rùa ) – linh vật?


Để tỏ lòng tôn kính loài linh vật này, đầu thế kỉ 20 này có một nhà Tư Sản Việt Nam đã xin phép chính quyền sở tại và xây lên tháp Rùa trên hòn đảo nhỏ trong lòng hồ Hoàn Kiếm. Có nguồn tin truyền mồm rằng: nhà Tư Sản kia thấy đó là nơi linh huyệt định xây tháp rồi đưa hài cốt cha ông vào đó mong kết phát, nhưng là nơi linh huyệt lớn, chỉ ai có phúc đức lớn, có lòng nhân hậu trùm thiên hạ thì mới được ngôi đất này, nên nhà Tư Sản kia không thể đặt mộ được. Vậy nên mới có ngôi tháp Rùa này trên đảo nhỏ giữa hồ.
Nhà danh nho nổi tiếng Nguyễn Siêu triều Nguyễn đã bỏ ra bao tâm huyết để tôn tạo đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và ông đã cho xây lên Tháp Bút để tỏ rõ cái chí của giới văn sĩ Bắc Hà. Người đời lúc đương thời đã tôn ông là “ Thần Siêu ” vì ông là người rất giỏi văn thơ chữ nghĩa lại là người có đầu óc khoáng đạt, lẽ đương nhiên, ông thấu hiểu địa danh này là nơi chung tụ linh khí của đất trời. Vậy Tháp Bút ông cho xây có ý ngầm định với trời đất rằng: những con người tài giỏi đất Bắc Hà đều là những kẻ sĩ trong thiên hạ sẽ viết mãi những bài thơ, bài văn hào hùng ca ngợi hào khí đất Thăng Long ngàn năm văn hiến mặc cho vua nọ, chúa kia muốn làm gì thì làm. ( Mặt khác, nơi đây không có những ngọn núi xung quanh như hình búp măng, theo thuật Địa lí phải có những ngọn núi đó thì các sĩ tử quanh vùng mới học giỏi, thi đỗ cao được. Nếu thiếu các ngọn núi hình búp măng, thì phải xây Tháp bút thì mới xuất hiện những người tài cao, học giỏi ).
Mấy năm gần đây người ta có thực hiện việc nạo vét lòng hồ, xây lại Tháp Rùa mà báo chí đã đưa nhiều ý kiến của nhiều giới quanh vấn đề này. Riêng việc xây lại Tháp Rùa cộng với việc xây 6 bồn hoa tại hòn đảo nhỏ giữa hồ theo cách nhìn của thuật Phong thuỷ là có dụng ý riêng của một số người nhằm đặt cốt cha ông vào đó. Nhưng dư luận báo chí phản đối ( họ chỉ phản đối việc xây bồn hoa sẽ không còn chỗ cho ruà lên phơi mình ) nên 6 bồn hoa phải dỡ bỏ. Nơi linh huyệt này đâu phải chỗ dành cho họ hưởng phúc! Còn đền Ngọc Sơn nơi thờ các vị anh hùng dân tộc – nơi linh thiêng đâu có chỗ cho những kẻ đặt trộm mả mồ. Nếu có đặt trộm được thì làm sao phát phúc nổi. Nơi cửa đền đâu dung nạp cốt cha ông của những kẻ tham lam ngu dốt.
Còn Tây Hồ, một mặt hồ yên tĩnh phẳng lặng bao la trong một ngày nắng đẹp bỗng nổi sóng xoáy, dìm chết đuối một nhóm “văn công ”, thực chất là các thày Địa Lí Trung quốc khi đi thuyền ngó nghiêng nơi linh huyệt này, mặc dù trước đó phía ta đã thông báo là không đảm bảo an toàn, nhưng họ vẫn cứ đi. Giữa trời yên, mặt hồ êm tịnh mà có xoáy nước dìm đắm thuyền thì có lạ không? Phải chăng có 1 nhóm người nhái nước ta đã lật thuyền dìm chết? Chuyện này xảy ra vào thập niên 60 của thế kỉ 20. 
Tiện đây, tôi nói rộng ra một chút nhân chuyến thăm quan cố đô Huế năm 1993 tôi được nghe một câu ca dao đời mới thế này:
“ Bùi San cùng với Trần Hoàn ,
Hai người cấu kết phá đền Nam Giao ”
Chả là thế này: sau giải phóng 1975, tỉnh uỷ thừa Thiên – Huế có cho dỡ bỏ đền Nam Giao tại cố đô Huế và định đưa nghĩa trang liệt sĩ vào nơi đây ( lúc đó Bùi San là bí thư tỉnh uỷ, còn Trần Hoàn là trưởng ty văn hoá, sau này là bộ trưởng bộ văn hoá ) nên mới có câu ca dao như trên. 
Thế kỉ trước triều nhà Nguyễn cho phá đền Nam Giao ở Thăng long, thì hơn một thế kỉ rưỡi sau đền Nam Giao của hoàng triều này cũng bị phá bỏ tại Huế. Đúng là: nhân nào, quả nấy!


Đền Nam Giao là nơi để nhà Vua tế trời. Ngôi đền này là kết tinh công sức, trí tuệ của các người thợ tài danh làm nên. 
Đền Nam giao ở Huế có cấu trúc đỏ ghộp đặc biệt khi Vua đọc lời tế, tiếng vọng xa 6km, 7km vẫn nghe rõ như đứng sát bên. Ngày nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm hiểu nổi cấu trúc ngôi đền này ra sao, mà khi đọc bằng miệng lại vọng xa như thế? Hai ngôi đền ở 2 cố đô bị phá chẳng đáng tiếc lắm sao? dễ gì ngày nay chúng ta phục chế nổi như nguyên mẫu.

Lời kết


Tôi không phải là người Hà nội, song tôi rất yêu quí nơi này. Với lòng thành kính, tôi đã để tâm nghiên cứu Thăng Long ngàn năm văn hiến, cố đô xưa nay là thủ đô của nước Việt nam ta. Để kết thúc phần phân tích này tôi chỉ có một ước nguyện là: mọi con người Việt Nam, mọi thế hệ con cháu Lạc Hồng hãy giữ gìn và góp sức xây dựng Thăng Long – Hà nội trở thành thủ đô văn minh, giàu đẹp, thủ đô vĩnh hằng của dân tộc Việt.

 
Hà nội  tháng giêng năm Canh Thìn
Nguyễn Văn Thủy             

xem thêm

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here